Nông nghiệp Vĩnh Long

 sgdnsvl.snn@gmail.com  02703 880 191
 
“Hạ tầng văn hóa số” định hình văn hóa Việt Nam trên không gian số
Thứ năm, Ngày 3 Tháng 9 Năm 2026
55 Lượt xem
(Vinhlong.gov.vn) - Ủy ban nhân dân tỉnh đã có văn bản chỉ đạo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tham mưu triển khai Nghị định số 277/2026/NĐ-CP ngày 09/7/2026 của Chính phủ về Hạ tầng văn hóa số.

Theo đó, Ủy ban nhân dân tỉnh giao Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan tham mưu triển khai thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ của Ủy ban nhân dân tỉnh được giao tại Nghị định số 277/2026/NĐ-CP; trong đó khẩn trương thực hiện nội dung sau: Chủ trì tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành kế hoạch tạo lập, chuẩn hóa dữ liệu văn hóa số tỉnh Vĩnh Long và lộ trình kết nối vào Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia theo quy định tại Khoản 1, Điều 19 của Nghị định số 277/2026/NĐ-CP.

Nghị định số 277/2026/NĐ-CP ngày 09/7/2026 về Hạ tầng văn hóa số gồm 5 chương, 20 điều. Nghị định này quy định chi tiết khoản 1, khoản 3 và khoản 5 Điều 10 Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam, bao gồm: phát triển hạ tầng văn hóa số; cơ sở dữ liệu về văn hóa, kho dữ liệu văn hóa số quốc gia, nền tảng số dùng chung trong lĩnh vực văn hóa; chính sách thu hút đầu tư, hỗ trợ phát triển công nghệ số, sản phẩm, dịch vụ văn hóa số; trung tâm đổi mới sáng tạo văn hóa và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Đối tượng áp dụng của Nghị định là cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam và cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài trực tiếp tham gia hoặc có liên quan đến hoạt động phát triển, xây dựng, quản lý, quản trị, vận hành, khai thác, sử dụng hạ tầng văn hóa số; phát triển, sản xuất nội dung số, sản phẩm, dịch vụ văn hóa số và trung tâm đổi mới sáng tạo văn hóa tại Việt Nam.

Hạ tầng văn hóa số là hạ tầng chuyên ngành trong lĩnh vực văn hóa, phục vụ hoạt động văn hoá trên môi trường số. Nếu như hạ tầng giao thông kết nối con người và hàng hóa, hạ tầng số kết nối dữ liệu và tri thức, thì hạ tầng văn hóa số kết nối bản sắc văn hóa Việt Nam với sáng tạo, kinh tế và sức mạnh mềm quốc gia. Hệ thống hạ tầng này mang tính đồng bộ và liên thông cao, được dùng chung, gắn kết để phát triển cho cả lĩnh vực du lịch và lĩnh vực thể thao.

Nhà nước khuyến khích, thu hút các tập đoàn công nghệ, doanh nghiệp công nghệ số trong nước và nước ngoài đầu tư, hợp tác đầu tư, tài trợ, chuyển giao công nghệ, phát triển hạ tầng số, hạ tầng dữ liệu, nền tảng số dùng chung, giải pháp công nghệ cao phục vụ bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa, phát triển công nghiệp văn hóa và sản phẩm, dịch vụ văn hóa số.. Việc đầu tư, phát triển hạ tầng văn hóa số, sản phẩm, dịch vụ văn hóa số theo phương thức đối tác công tư được thực hiện theo quy định của pháp luật về đầu tư theo phương thức đối tác công tư, pháp luật về dữ liệu, pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công và pháp luật có liên quan.

Một số công nghệ số ưu tiên phát triển trong lĩnh vực văn hóa bao gồm: Điện toán đám mây (Cloud Computing); Điện toán biên (Edge Computing); Trí tuệ nhân tạo (AI); Dữ liệu lớn (Big Data); Bản sao số (Digital Twin); Internet vạn vật (IoT); Chuỗi khối (Blockchain); Thực tế ảo (VR), thực tế tăng cường (AR), thực tế mở rộng (XR), trải nghiệm nhập vai (IR), thực tế hỗn hợp (MR); Công nghệ quét ba chiều (LiDAR), trắc lượng ảnh (Photogrammetry), hệ thống thông tin địa lý (GIS), mô hình hóa thông tin (BIM/HBIM); Công nghệ số khác theo quy định của pháp luật.

Ứng dụng công nghệ số ưu tiên phát triển trong lĩnh vực văn hóa bao gồm: (1) Mô hình ngôn ngữ lớn, trợ lý ảo và trí tuệ nhân tạo (AI) chuyên ngành văn hóa được huấn luyện dựa trên các tập dữ liệu chuẩn hóa của Việt Nam, có cơ chế kiểm soát đầu ra bảo đảm sự phù hợp với hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam, phục vụ số hóa, phân loại và gắn thẻ tự động tài nguyên văn hóa; nhận dạng chữ cổ, tư liệu lịch sử; dịch thuật đa ngôn ngữ, tạo phụ đề tự động; cá nhân hóa trải nghiệm văn hóa cho người dùng; tạo sản phẩm sáng tạo mới từ dữ liệu văn hóa số; việc phát triển và triển khai các mô hình, ứng dụng trí tuệ nhân tạo bảo đảm tuân thủ quy định của pháp luật có liên quan; (2) Nền tảng hỗ trợ sáng tạo và phân phối nội dung số phục vụ cung cấp công cụ sáng tạo, sản xuất và phân phối các sản phẩm, dịch vụ công nghiệp văn hóa, công nghiệp giải trí trên môi trường mạng, bao gồm hạ tầng phân phối nội dung (CDN), hệ thống quản lý và bảo vệ bản quyền số (DRM), công nghệ chống vi phạm bản quyền trực tuyến; (3) Nền tảng quản trị tài sản số, sàn dữ liệu văn hóa và sàn giao dịch bản quyền số phục vụ truy xuất nguồn gốc dữ liệu, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, cung cấp môi trường để giao dịch, trao đổi dữ liệu và hỗ trợ giao dịch, thương mại hóa các sản phẩm văn hóa, nghệ thuật, tài sản số; (4) Nền tảng quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về di sản văn hóa; trưng bày, triển lãm trên môi trường điện tử phục vụ nhu cầu lưu trữ, thể hiện trên bản đồ số, tái lập các không gian di tích, hiện vật lịch sử lên môi trường số, cho phép khách tham quan 360 độ trên môi trường số hoặc tái hiện các loại hình nghệ thuật truyền thống; (5) Nền tảng thuyết minh tự động và diễn giải văn hóa phục vụ du khách tham quan; (6) Nền tảng phim trường số, trường quay số phục vụ quay dựng phim, xử lý kỹ thuật hậu kỳ; (7) Nền tảng nghệ thuật biểu diễn trực tuyến, nền tảng lớp học văn hóa, nghệ thuật trực tuyến; (8) Nền tảng xuất bản, phát hành số; nền tảng truyền thông tri thức xã hội số quốc gia trên thiết bị di động, gắn với chuỗi chương trình nội dung trọng điểm có định hướng tạo thành dòng thông tin, tri thức định hình chuẩn mực hành vi, ứng xử văn hóa, góp phần hình thành môi trường văn hóa lành mạnh, văn minh, an toàn trên môi trường số; (9) Sản phẩm công nghệ số ưu tiên khác theo quy định của pháp luật.

Nhằm tối ưu hóa hiệu quả của hạ tầng văn hóa số và khơi thông các nguồn lực, Nghị định cũng đưa ra các cơ chế, chính sách hỗ trợ mạnh mẽ nhằm thu hút nguồn vốn xã hội hóa và đầu tư phát triển sản phẩm, dịch vụ văn hóa số. Các doanh nghiệp công nghệ tham gia phát triển hạ tầng sẽ được hưởng các chính sách ưu đãi tối đa theo quy định pháp luật. Đồng thời, các Trung tâm đổi mới sáng tạo văn hóa sẽ được thành lập và công nhận, đặt trong các cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa, các cơ sở giáo dục đại học hoặc trung tâm văn hóa địa phương. Vận hành theo phương thức hợp tác chặt chẽ giữa Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp, các trung tâm này sẽ đóng vai trò tập hợp, điều phối, hướng dẫn, hỗ trợ hoạt động khởi nghiệp và phát triển cộng đồng người sáng tạo nội dung số bản địa.

Lâm Dung – Nguồn Công văn số: 11034/UBND-KGVX, Nghị định số: 277/2026/NĐ-CP

Các tin cùng chuyên mục:
Hiển thị kết quả 1-10 (của 100)
Trang:1 - 2 - 3 - 4 - 5 - 6 - 7 - 8 - 9 - 10Trang đầu « Lùi · Tới » Trang cuối