Dự báo tình hình sinh vật gây hại lúa vụ Đông xuân 2025-2026 trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long
Vụ lúa Đông Xuân 2025-2026 đang bước vào thu hoạch 1.800 ha, ước năng suất bình quân 5,99 tấn/ha. Hiện tại, diện tích chắc xanh chín và sắp thu hoạch 23.610 ha, còn lại đang tập trung giai đoạn làm đòng đến trổ. Sinh vật gây hại trong tuần 20/02-27/02/2026 nhiễm ở mức nhẹ cụ thể:
.png?ver=VTTnmdon2CdwRRI30AGXaA%3d%3d)
Trà lúa chắc xanh chín nhiễm lem lép hạt vụ ĐX 2025-2026
Do tình hình thời tiết kết hợp các trà lúa đang bước vào giai đoạn đòng trổ đến trổ chiếm tỷ lệ 89,3% diện tích xuống giống đây là giai đoạn rất mẫn cảm nên dịch hại phát triển khá mạnh. Vì vậy, diện tích nhiễm sâu bệnh trong kỳ 9.058 ha, tăng 2.760 ha so với tuần trước với các đối tượng dịch hại như sau:
- Lem lép hạt: diện tích nhiễm 1.085 ha, tăng 649 ha so với tuần trước, gây nhiễm trà trổ chín, với tỷ lệ phổ biến 5-10%. Phân bố rải rác các xã.
- Bệnh đạo ôn: diện tích nhiễm 2.592 ha, tăng 422 ha so với tuần trước. Trong đó:
+ Đạo ôn lá (cháy lá): diện tích nhiễm 1.557 ha, với tỷ lệ phổ biến 5-10%, gây nhiễm trên trà lúa làm đòng.
+ Đạo ôn cổ bông (thối cổ gié): diện tích nhiễm 1.035 ha, với tỷ lệ phổ biến 5-10%, gây nhiễm trên trà lúa trổ chín.
- Rầy phấn trắng: diện tích gây hại 990 ha, tăng 270 ha so với tuần trước, gây hại giai đoạn đòng trổ, với mật số phổ biến 500-1.000 con/m2.
- Rầy nâu: diện tích gây hại 252 ha, tăng 242 ha so với tuần trước, trên giai đoạn đòng trổ, với mật số phổ biến 500-1.000 con/m2 , nơi cao với mật số 2000-3.000 con/m2 có 10 ha. Phân bố rải rác các xã Trung Hiệp, Trung Thành, Quới An, Trung Ngãi, Tân An.
- Cháy bìa lá (bạc lá): diện tích nhiễm 963 ha, tăng 16 ha so với tuần trước, gây nhiễm giai đoạn đòng trổ đến trổ, với tỷ lệ phổ biến 10-15%.
- Chuột: diện tích gây hại 1.151 ha, tăng 125 ha so với tuần trước, gây hại giai đoạn trổ chín, với tỷ lệ phổ biến 5-10%.
* Dự báo sinh vật gây hại trong thời gian tới (từ ngày 27/02 đến ngày 06/3/2026)
- Rầy nâu: dự báo thời gian tới rầy chủ yếu tuổi 4,5 và trưởng thành cánh dài, rải rác có rầy cám mới nở, có thể nhiễm nhẹ trên trà lúa giai đoạn đòng trổ đến trổ, công tác phòng trị sẽ gặp khó khăn do các trà lúa cao. Do đó, cần theo dõi chặt chẽ mật số rầy trên đồng ruộng để có biện pháp phòng trừ thích hợp.
- Bọ xít hôi (bọ xít dài): lúa đang ở giai đoạn trổ đến ngậm sữa, nguy cơ bọ xít hôi gây hại sẽ rất cao và cần phải thăm đồng, kiểm tra thường xuyên.
- Rầy phấn trắng: tiếp tục theo dõi rầy phấn trắng ngoài đồng, khi phun thuốc phòng trừ lưu ý đảm bảo theo nguyên tắc 4 đúng, trong đó phải đảm bảo lượng nước phun, pha thêm chất bám dính để tăng hiệu quả phòng trừ.
- Bệnh đạo ôn, lem lép hạt: tiếp tục phát triển trên trà lúa đòng trổ đến trổ, đặc biệt lây lan và phát triển khi điều kiện thời tiết nhiều sương mù, ẩm độ cao. Bệnh lem lép hạt có nhiều nguyên nhân gây hại (như nấm, vi khuẩn, nhện gié, bọ xít hôi chích hút,…). Do đó, những ruộng bị nhiễm bệnh đạo ôn cổ bông, bệnh đốm vằn, bệnh vàng lá chín sớm, bọ xít hôi... có nguy cơ bị bệnh lem lép hạt nhiều hơn so với những ruộng khác.
- Chuột: tuần tới có khả năng gia tăng tỷ lệ gây hại do diện tích đất trồng lúa xen canh đất trồng rau màu và vườn cây ăn trái tạo điều kiện thuận lợi cho chuột phát sinh gây hại ngày một tăng.
* Một số biện pháp quản lý-canh tác trên cây lúa
- Hiện nay độ mặn tại các điểm đo đang có xu hướng giảm. Do vậy, các địa phương cần chủ động thường xuyên kiểm tra độ mặn và theo dõi cập nhật các bản tin về xâm nhập mặn để hướng dẫn người dân có thể lấy nước ở các khu vực có độ mặn dưới 1‰. Tuy nhiên, các địa phương không nên chủ quan vì độ mặn có khả năng tăng trở lại theo con nước triều cường giữa tháng 02 âm lịch nên cần cập nhật kịp thời các bản tin dự báo mặn để chủ động điều chỉnh kế hoạch sản xuất phù hợp, bố trí mùa vụ hợp lý với các diễn biến nguồn nước, vận hành hệ thống công trình ứng phó, tăng cường lấy nước ngay khi có thể và kết hợp tưới tiêu tiết kiệm, đồng thời kiểm soát mặn ở các hệ thống thủy lợi, đảm bảo tích trữ nước phục vụ sản xuất; Tăng cường công tác giám sát mặn, khuyến cáo sản xuất cây trồng ứng phó hợp lý trong điều kiện hạn, mặn, chẳng hạn như: Đối với lúa dễ bị thiệt hại ở giai đoạn mạ và giai đoạn lúa trổ, nếu độ mặn trên 1‰ không cho nước vào ruộng; khi sử dụng nước pha thuốc phun xịt thì nên sử dụng nước không nhiễm mặn (< 0,8‰). Đối với rau màu hoa kiểng cần thận trọng hơn, có kế hoạch trữ nước ngọt để tưới. Đối với cây ăn trái, sầu riêng, chôm chôm là cây nhạy cảm nhất đối với mặn nên cần theo dõi chặt chẽ và có kế hoạch trữ nước ngọt trong mương vườn để tưới trong thời gian mặn xâm nhập. Các cây ăn trái khác cũng chú ý không nên dùng nước nhiễm mặn để pha thuốc phun hoặc tưới nhiều lần trong lúc mặn xâm nhập.
- Điều kiện thời tiết sáng sớm xuất hiện nhiều sương mù, ẩm độ không khí cao kết hợp cùng giai đoạn lúa thích hợp cho sâu bệnh phát sinh và gây hại, vì vậy cần thăm đồng thường xuyên kiểm tra kỹ đồng ruộng để có biện pháp quản lý hiệu quả, đặc biệt đối với bệnh hại khi thấy có dấu hiệu chớm bệnh bà con ngưng bón phân đạm, xử lý thuốc đặc trị kịp thời, không pha chung với phân bón lá. Phun ngừa đạo ôn cổ bông, lem lép hạt trước khi lúa trổ và sau khi lúa đã trổ đều. Tiếp tục theo dõi, chăm sóc và quản lý tốt những diện tích đã nhiễm bệnh.
- Hiện tại ngoài đồng phổ biến rầy nâu tuổi 3,4, rải rác rầy trưởng thành, nhiễm chủ yếu với mật số thấp 500-1000 con/m2. Trà lúa trổ-chín về sau không nên phun thuốc trừ rầy có hoạt chất Acetamiprid, Triflumezopyrim do những loại thuốc chứa hoạt chất này lưu tồn rất lâu trong hạt lúa, ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng.
- Để phòng trừ bọ xít hôi (bù hút, bọ xít dài), rầy phấn trắng trên lúa hiệu quả, các sản phẩm thuốc BVTV cần chứa các hoạt chất có khả năng tiêu diệt nhanh (tiếp xúc) và có hiệu lực lưu dẫn kéo dài để phòng trừ. Phun thuốc vào sáng sớm (lúc còn sương, trước 7 giờ sáng) là hiệu quả nhất vì hoạt động mạnh vào những thời điểm này và cánh chúng còn ướt, dễ bị dính thuốc.