Tiếp tục thực hiện công tác bảo đảm an ninh mạng và duy trì hoạt động giám sát an ninh mạng trên địa bàn tỉnh
(Vinhlong.gov.vn) - Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long vừa có văn bản chỉ đạo các cơ quan, đơn vị, địa phương tiếp tục thực hiện công tác bảo đảm an ninh mạng và duy trì hoạt động giám sát an ninh mạng trên địa bàn tỉnh.
Theo đó, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đề nghị các cơ quan, đơn vị địa phương tiếp tục quán triệt, triển khai Kế hoạch của Ủy ban nhân dân tỉnh về triển khai thi hành Luật An ninh mạng; thực hiện các chương trình, kế hoạch, văn bản chỉ đạo của Tỉnh ủy, Tiểu ban An ninh mạng tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh và cảnh báo của cơ quan có thẩm quyền.
Thực hiện đầy đủ trách nhiệm của cơ quan chủ quản hệ thống thông tin và cơ quan, đơn vị quản lý, vận hành hệ thống. Rà soát, triển khai phương án bảo đảm an ninh mạng theo hồ sơ đề xuất cấp độ đã được phê duyệt; cập nhật bản vá bảo mật, phần mềm phòng, chống mã độc; quản lý tài khoản, tài khoản quản trị và quyền truy cập; kịp thời thu hồi hoặc điều chỉnh quyền khi thay đổi vị trí công tác, chuyển công tác, nghỉ việc hoặc không còn nhu cầu sử dụng.
Thực hiện sao lưu, lưu trữ, kiểm tra khả năng phục hồi dữ liệu phù hợp với tính chất, mức độ quan trọng của hệ thống; bảo vệ dữ liệu cá nhân, dữ liệu nội bộ và bí mật nhà nước theo đúng quy định. Không cung cấp dữ liệu, tài khoản, mật khẩu, khóa truy cập, mã nguồn, tệp cấu hình, nhật ký hệ thống hoặc tài liệu nội bộ cho tổ chức, cá nhân không có trách nhiệm.
Đối với hệ thống thông tin thuộc trường hợp phải xác định, phê duyệt cấp độ nhưng chưa hoàn thành, cơ quan, đơn vị quản lý, vận hành hệ thống khẩn trương rà soát, lập, hoàn thiện, trình thẩm định và phê duyệt hồ sơ đề xuất cấp độ theo quy định; tổ chức triển khai phương án bảo đảm an ninh mạng tương ứng với cấp độ được phê duyệt. Công an tỉnh hướng dẫn trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền được giao.
Đối với hệ thống thông tin đang kết nối, giám sát qua Hệ thống giám sát an ninh mạng tỉnh, tiếp tục duy trì kết nối và phân công đầu mối phối hợp xử lý cảnh báo, sự cố theo nhiệm vụ đã được giao, hồ sơ cấp độ, phương án được phê duyệt và hợp đồng có liên quan. Việc thu thập, cung cấp, chia sẻ và khai thác nhật ký hệ thống phải đúng phạm vi, mục đích, thẩm quyền; chỉ thu thập dữ liệu cần thiết cho hoạt động giám sát và tuân thủ pháp luật về an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân, bảo vệ bí mật nhà nước.
Khi nhận cảnh báo hoặc phát hiện nguy cơ, lỗ hổng, dấu hiệu tấn công, sự cố hay nguy cơ lộ, mất dữ liệu, phải khẩn trương kiểm tra, áp dụng biện pháp xử lý ban đầu thuộc thẩm quyền; bảo toàn dữ liệu điện tử có liên quan, nhật ký và thiết bị; đồng thời thông báo cho đầu mối đơn vị để phối hợp xử lý. Không tự ý xóa nhật ký, cài đặt lại hệ thống hoặc làm thay đổi hiện trạng khi chưa đánh giá đầy đủ, trừ trường hợp cần thiết để ngăn chặn ngay thiệt hại và đã ghi nhận biện pháp thực hiện.
Người đứng đầu cơ quan, đơn vị chịu trách nhiệm chỉ đạo công tác bảo đảm an ninh mạng đối với hệ thống thông tin thuộc phạm vi quản lý; bố trí đầu mối tiếp nhận cảnh báo, phối hợp xử lý sự cố; kịp thời báo cáo khó khăn, vướng mắc hoặc vấn đề vượt thẩm quyền.
Công an tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về an ninh mạng theo thẩm quyền; theo dõi tình hình, cảnh báo, hướng dẫn, kiểm tra và phối hợp với cơ quan, đơn vị, địa phương trong phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, xử lý hành vi xâm phạm an ninh mạng, nguy cơ và sự cố có liên quan. Việc hướng dẫn không thay thế trách nhiệm lập hồ sơ, quản lý hệ thống và tổ chức thực hiện của cơ quan quản lý, vận hành.
Tiếp tục quản lý, vận hành Hệ thống giám sát an ninh mạng tỉnh; duy trì giám sát đối với các hệ thống đang thuộc phạm vi giám sát; tổ chức tiếp nhận, phân tích, xác minh và chuyển cảnh báo đến cơ quan chủ quản hệ thống thông tin và cơ quan, đơn vị được giao quản lý, vận hành hệ thống để xử lý.
Rà soát hiện trạng Hệ thống giám sát an ninh mạng tỉnh, tình trạng kết nối, nguồn dữ liệu, tài khoản, quyền truy cập, việc lưu trữ và khai thác dữ liệu; xác định rõ phạm vi nhật ký cần thu thập, thời hạn lưu giữ, thẩm quyền khai thác, việc ghi nhật ký truy cập và trách nhiệm bảo vệ dữ liệu; xử lý theo thẩm quyền hoặc báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh đối với vấn đề vượt thẩm quyền.
Khi phát hiện nguy cơ, lỗ hổng, điểm yếu hoặc dấu hiệu bất thường, kịp thời cảnh báo cơ quan quản lý, vận hành hệ thống để kiểm tra, xác minh và phối hợp xử lý. Việc áp dụng biện pháp kỹ thuật phải căn cứ tính chất, mức độ vụ việc, thẩm quyền, phương án đã được phê duyệt và quy định pháp luật; không tự ý can thiệp làm gián đoạn hoạt động của hệ thống ngoài phạm vi được giao.
Hướng dẫn bảo toàn dữ liệu điện tử có liên quan, nhật ký hệ thống và thiết bị khi xảy ra sự cố, bảo đảm tính nguyên vẹn, khả năng truy xuất và ghi nhận quá trình thu thập, bàn giao, quản lý; phối hợp đánh giá phạm vi ảnh hưởng, nguyên nhân và nguy cơ đối với dữ liệu, hệ thống. Trường hợp có dấu hiệu vi phạm pháp luật, thực hiện thu thập, bảo quản và xử lý theo trình tự, thủ tục tương ứng.
Căn cứ hợp đồng, hồ sơ kỹ thuật, thỏa thuận bảo mật và nội dung đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt để quản lý, theo dõi, kiểm tra đơn vị cung cấp dịch vụ Hệ thống giám sát an ninh mạng tỉnh; yêu cầu khắc phục tồn tại thuộc phạm vi hợp đồng. Trường hợp cần bổ sung trách nhiệm, điều kiện kỹ thuật hoặc biện pháp bảo vệ ngoài hợp đồng, tham mưu cấp có thẩm quyền xem xét, xử lý theo quy định.
Chủ trì rà soát cơ sở pháp lý, mô hình quản lý, vận hành, phạm vi giám sát, kết nối, chia sẻ dữ liệu; phối hợp với các cơ quan có liên quan hoàn thiện hồ sơ xây dựng Quy chế bảo đảm an ninh mạng trên địa bàn tỉnh và Quy chế quản lý, vận hành Hệ thống giám sát an ninh mạng tỉnh, bảo đảm đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục; trình Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét theo quy định.
Sở Khoa học và Công nghệ thực hiện trách nhiệm quản lý, vận hành và bảo vệ các hệ thống thông tin, hạ tầng kỹ thuật, nền tảng số được giao; hướng dẫn, hỗ trợ cơ quan, đơn vị về hạ tầng kỹ thuật, quản lý vận hành hệ thống trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền.
Phối hợp Công an tỉnh, cơ quan chủ quản hệ thống thông tin và cơ quan, đơn vị quản lý, vận hành hệ thống rà soát hạ tầng, nền tảng số, hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu; trao đổi thông tin cần thiết khi phát hiện nguy cơ, lỗ hổng, điểm yếu hoặc sự cố; phối hợp kết nối, chia sẻ thông tin kỹ thuật phục vụ giám sát trên cơ sở phạm vi đã được phê duyệt và quy định pháp luật.
Trong quá trình triển khai chương trình, đề án, dự án về chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin và phát triển hạ tầng số, phối hợp xem xét, thực hiện yêu cầu bảo đảm an ninh mạng ngay từ giai đoạn đề xuất, thiết kế, lựa chọn giải pháp, nghiệm thu và đưa vào vận hành.
Đối với hệ thống thông tin, nền tảng số, cơ sở dữ liệu và hạ tầng kỹ thuật dùng chung của tỉnh: Cơ quan, đơn vị quản lý, vận hành tiếp tục thực hiện nhiệm vụ theo chức năng, nhiệm vụ và quyết định của cấp có thẩm quyền; triển khai đầy đủ phương án bảo đảm an ninh mạng, phương án ứng cứu sự cố đã được phê duyệt; duy trì giám sát, cảnh báo và phối hợp xử lý kịp thời nguy cơ, sự cố phát sinh. Việc thay đổi cấu hình, kết nối, tích hợp, nâng cấp, mở rộng hoặc thực hiện hoạt động có khả năng ảnh hưởng đến an toàn của hệ thống phải được thực hiện theo đúng thẩm quyền, quy trình quản lý thay đổi, hồ sơ cấp độ, phương án đã được phê duyệt và quy định pháp luật có liên quan; phải có phương án khôi phục khi thay đổi không thành công.
Về quản lý đơn vị cung cấp dịch vụ Hệ thống giám sát an ninh mạng tỉnh: Công an tỉnh thực hiện quản lý, theo dõi, kiểm tra và phối hợp với đơn vị cung cấp dịch vụ theo nhiệm vụ được giao, hợp đồng, hồ sơ kỹ thuật và nội dung đã được phê duyệt; bảo đảm đúng phạm vi công việc, yêu cầu kỹ thuật, chất lượng dịch vụ và trách nhiệm bảo mật.
Đơn vị cung cấp dịch vụ chỉ được tiếp cận, khai thác, xử lý thông tin và dữ liệu trong phạm vi cần thiết để thực hiện hợp đồng và theo phân quyền của cơ quan có thẩm quyền; không được tự ý sao chép, sử dụng, lưu giữ hoặc chia sẻ dữ liệu, nhật ký, cấu hình và tài liệu kỹ thuật ngoài phạm vi, mục đích đã được phê duyệt.
Việc cấp, thay đổi, thu hồi tài khoản; truy cập từ xa; trích xuất dữ liệu; bàn giao cấu hình, tài liệu kỹ thuật và dữ liệu; xóa hoặc hủy dữ liệu khi thay đổi, chấm dứt hợp đồng phải được kiểm soát, ghi nhận và thực hiện theo hợp đồng, quyết định của cơ quan có thẩm quyền và quy định của pháp luật. Việc xóa dữ liệu chỉ thực hiện sau khi hoàn tất bàn giao, có xác nhận bằng văn bản và không thuộc trường hợp phải tiếp tục lưu giữ theo quy định.
Trường hợp đơn vị cung cấp dịch vụ không bảo đảm yêu cầu theo hợp đồng hoặc có nguy cơ ảnh hưởng đến an ninh mạng, bảo mật thông tin hay hoạt động ổn định của hệ thống, Công an tỉnh yêu cầu khắc phục trong phạm vi hợp đồng và thẩm quyền được giao; nội dung vượt thẩm quyền hoặc ngoài hợp đồng phải báo cáo, tham mưu, đề xuất Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, quyết định.
Cơ quan chủ quản hệ thống thông tin chịu trách nhiệm chỉ đạo xử lý sự cố đối với hệ thống thuộc phạm vi quản lý. Đơn vị vận hành hệ thống thông tin thực hiện biện pháp xử lý ban đầu theo phương án ứng cứu sự cố và phạm vi được giao; đồng thời thông báo Công an tỉnh và cơ quan liên quan để phối hợp theo chức năng, nhiệm vụ.
Đối với sự cố ảnh hưởng lớn, gây gián đoạn hoạt động thiết yếu, có dấu hiệu lộ, mất dữ liệu, xâm phạm an ninh mạng, vượt khả năng xử lý; cán bộ, công chức hoặc đơn vị phát hiện phải báo cáo ngay qua đầu mối tiếp nhận sự cố tại đơn vị và phối hợp xử lý theo phương án đảm bảo an ninh mạng đã được phê duyệt; sau đó hoàn thiện báo cáo bằng văn bản theo quy định.
Cơ quan chủ quản quyết định tạm dừng, cô lập, khôi phục hệ thống thuộc phạm vi quản lý. Đơn vị vận hành chỉ được áp dụng biện pháp khẩn cấp đã được quy định trong phương án đảm bảo an ninh mạng đã được phê duyệt hoặc được cơ quan chủ quản cho phép. Trường hợp phải xử lý ngay để ngăn chặn thiệt hại, đơn vị vận hành thực hiện biện pháp tối thiểu cần thiết, đồng thời báo cáo ngay về Đội Ứng cứu sự cố an ninh mạng, an toàn thông tin mạng tỉnh và ghi nhận đầy đủ thời gian, người thực hiện, lý do, phạm vi tác động và kết quả thực hiện.
Thảo Tiên - Nguồn Công văn số: 14404/UBND-KGVX